Tinh Pháp Tinh Pháp

Lộ Trình Giải Thoát Theo Giáo Lý Ngũ Thừa

Thích Đức Trí · 12/10/2026
Ngũ Thừa Giải thoát Lục Độ Ba La Mật

Đề thi Môn Phật Pháp Thời gian: 180 phút - Hình thức: Tự Luận (không sử dụng tài liệu) - Kỳ Thi Thạc Sĩ Phật Học - Học Viện Phật Giáo Việt Nam.

Nhận thấy đây là đề tài cốt tuỷ có giá trị cần thiết và đem lại nhiều lợi ích lớn nên nay con viết lại.

Ngưỡng nguyện cho những thiện tri thức hữu duyên thấy nghe đều phát bồ đề tâm, thêm chánh trí và tri kiến, liễu ngộ vô sanh chứng nhập niết bàn.

Thích Đức Trí

Bài Làm

Trong Kinh Pháp Bảo Đàn có viết rằng “Này thiện tri thức, bồ đề tự tánh xưa nay thanh tịnh, chỉ cần dùng tâm này, thẳng đó được thành Phật”. Mười phương ba đời chư Phật xưa nay đều đồng một thể bản tánh thanh tịnh, nơi ấy tâm thuần khiết tuyệt đối, không có vô minh, ái, thủ, hữu, nghiệp (hành), phi không gian, phi thời gian. Nhưng chúng sinh do một niệm bất giác bởi sự xuất hiện của vô minh mà từ vô thức tánh cảnh (bản thể thanh tịnh) xuống hữu thức tánh cảnh và nương nơi nghiệp lực, duyên sinh mà tái sinh vào lục đạo luân hồi: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, người, trời, a tu la. Trong cảnh giới cõi người, nếu nói theo chiều thuận thì vô minh, ái, thủ, hữu, hành là nguồn gốc gây ra khổ đau, chỉ có minh và vô dục, đoạn tận duyên sinh là đoạn tận khổ trở về với bản thể thanh tịnh sẵn có. Sự kiện Thái Tử Tất Đạt Đa, trước sinh lão bệnh tử và những nỗi khổ nơi tự tâm, ngài rời bỏ cung vàng điện ngọc đi tìm chân lý chấm dứt khổ: sinh, lão, bệnh, tử, ái biệt li khổ, oán tắng hội khổ, cầu bất đắc khổ, ngũ ấm thạnh khổ. Ngài tu hành 6 năm khổ hạnh rừng già nhưng con đường khổ hạnh không hoàn toàn là con đường đưa đến sự chấm dứt khổ đau, ngài thiền định bốn chín ngày dưới cội bồ đề viên mãn ba la mật thể nhập tự tánh thanh tịnh, hoàn toàn liễu ngộ sinh tử, thể nhập niết bàn từ nơi trí tuệ của bậc giác ngộ ngài thấy ra chân lý bốn thánh đế là con đường chấm dứt khổ đau, sinh tử đưa đến giải thoát giác ngộ. Ngài chứng ngộ nguyên lý duyên sinh và chứng đắc Tam Minh: túc mạng minh, thiên nhãn minh, lậu tận minh. Có vô lượng con đường, vô lượng pháp môn tương ứng với vô lượng chúng sinh, “Như trăm sông đổ về biển lớn, vị của biển đều đồng một vị, này Paharada, pháp và luật của ta đều đồng một vị giác ngộ, giải thoát”. Trong suốt bốn chín năm thuyết pháp với những bài pháp phũ trực chỉ cho chúng sanh thấy khổ và con đường thoát khổ, khi ngài tịch diệt đệ tử ngài sau ba lần kiết tập đã để lại kho tàng Kinh - Luật - Luận còn giá trị lý luận và thực tiễn đến ngày hôm nay. Trong đó những giáo lý về Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, hay giáo lý Ngũ Thừa cũng là một trong những con đường được ngài nhắc tới.

Giáo lý Ngũ Thừa chỉ ra mục tiêu và tiến trình trên lộ trình giải thoát, giác ngộ. Đồng thời chỉ rõ con đường và phương pháp để liễu ngộ vô sinh chứng nhập niết bàn. Tuy nhiên cần nhìn Lộ trình giải thoát qua giáo lý Ngũ Thừa mang tính biện chứng. Nếu chỉ hiểu và dùng ngữ ngôn trình bày về giáo lý Ngũ Thừa thì chưa vào cửa đạo, hành giả có thể lạc đường ngay trong hành trình giải thoát của chính mình. Pháp của phật có bốn tính chất: vượt thời gian, đến để mà thấy, tự mình thông đạt, tự mình liễu tri. Vì vậy nhìn nhận Lộ trình Giải Thoát qua giáo lý Ngũ Thừa chính là ngoài pháp học, pháp hành cần thực chứng và liễu ngộ trên thực tế những nhân duyên và bài học giác ngộ trong đời sống. Qua sông cần đò nhưng qua sông rồi cũng hãy chánh trí để bỏ lại con đò, thẳng tiến vô linh, thấy ra trí tuệ ba đời chư phật.

Giáo lý Ngũ Thừa: Nhận thừa, Thiên thừa, Thanh văn thừa, Duyên giác thừa, Bồ tát Thừa

Lộ trình Giải Thoát đi từ vô thức tánh cảnh (bản thể thanh tịnh) nhưng do một niệm bất giác bởi vô minh mà đi xuống hữu thức tánh cảnh, từ đó do nghiệp lực và duyên sinh mà đi vào sáu nẻo luân hồi: Địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, người, trời, a tu la. Trong Lộ trình giải thoát của cõi người khi mang thân tứ đại, sáu căn: nhãn, nhĩ, tỹ, thiệt, thân, ý (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) duyên sinh tiếp xúc với sáu trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp từ đó hình thành sáu thức: nhãn thức, nhĩ thức, tỹ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức. Tuy nhiên đến đây giáo lý của phật giáo Nguyên Thuỷ trình bày dừng lại ở sáu thức, phật giáo Phát Triển ngoài sáu thức trên còn nhìn nhận thêm hai thức: mạc na thức, ý thức. Nơi mạc na thức là thức đúng sau giật dây, chụp mũ bản ngã: tôi, của tôi, tự ngã của tôi từ đó phát sinh nghiệp lực: tham, sân, si, mạn, nghi và hình thành đau khổ, trực tiếp đưa con người vào cánh cửa luân hồi sinh tử. Nhưng nhờ phước duyên con người từ Vô Minh, ái, thủ, hữu, nghiệp có nhân duyên được học phật, nghe pháp và thực hành mà chuyển hoá từ khổ, luân hồi nghiệp chướng trở về bản thể tâm thanh tịnh ban đầu thông qua các con đường mà mười phương ba đời chư Phật đã chỉ dạy. “Ta là phật đã thành, các ngươi là phật sẽ thành” ngài chỉ bày nhiều phương tiện và con đường đưa đến sự chấm dứt khổ đau như giáo lý về Tứ Diệu Đế, con đường thực hành Bát Chánh Đạo, hay con đường giáo lý Ngũ Thừa. Khi nhận ra Vô minh, ái, thủ, hữu, hành không hoàn toàn đứng im tồn tại độc lập, không thể thay đổi mà chúng trong hệ thống duyên sinh, nhân quả chằng chịt đều có thể thay đổi từ vô minh sang trí tuệ, khổ đau sang chấm dứt khổ, từ nghiệp sang bản thể thanh tịnh. Nếu duyên sinh là nguồn gốc của khổ đau, thì đoạn tận duyên sinh cũng là lúc khổ đau được đoạn tận. Không còn tạo tác nhân mới, việc cần làm đã làm, nay không còn tái sinh lại nữa đó là lúc con người trở về với vô thức tánh cảnh (hay bản thể thanh tịnh).

Nhìn lộ trình giải thoát dưới góc độ Duy Thức Học: từ lục căn tiếp xúc với lục trần hình thành tám thức. Trong đó khi lục căn tiếp xúc lục trần hình thành lục thức ban đầu, khi chưa có sự xuất hiện của mạc na thức thì khi ấy là duyên khởi thuần khiết chưa xuất hiện khổ đau. Chỉ khi được chụp mũi thêm ái, thủ, hữu thì nghiệp và khổ đau, luân hồi sinh tử liền theo sau. Trong quá trình chuyển hoá đầu tiên từ năm thức đầu (nhãn thức, nhĩ thức, tỹ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức thành Thành Sở Tác Trí đây là trí tuệ để chuyển hoá và thực hiện trọn vẹn các duyên tại Tập Đế), giai đoạn chuyển hoá ý thức thành Diệu Quán Sát Trí (diệu dụng và dung chứa, lắng nghe mà không phán xét, không phản ứng), giai đoạn tiếp theo là sự chuyển hoá của mạc na thức thành Bình Đẳng Tánh Trí (bình đẳng không phân biệt), giai đoạn cuối cùng là sự chuyển hoá a lại da thức thành Đại Viên Cảnh Trí (là nơi chứa đựng các chủng tử thuần khiết và thanh tịnh, khi ấy con người chính thức đi từ vô minh, đau khổ trở về với bản thể thanh tịnh, đồng thể tánh phật định tính, trong lành, sáng suốt).

Giáo lý Ngũ Thừa, nhân thừa thực hành Tam Quy (quay về nương tựa Phật Bảo, Pháp Bảo, Tăng Bảo) và thực hành Ngũ Giới: Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm với vợ chồng người, không nói dối nói lưỡi đôi chiều nói lời thêu dệt hại mình hại người, không sử dụng các chất kích thích khiến mất kiểm soát) tuy nhiên nhân thừa vẫn bán chấp vào phước đức và Ngũ giới.

Về Thiên Thừa thực hành thập thiện: Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm với vợ chồng người, không nói dối, không nói lưỡi đôi chiều, không nói lời thô ác, không nói lời thêu dệt hại mình hại người, không tham lam, không sân hận, không tà kiến si mê. Tuy nhiên Thiên thừa vẫn chấp vào thập thiện.

Về Thanh Văn Thừa, thực hành Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo nhưng vẫn còn chấp có Tứ Đế (hoá thành). Tứ Diệu Đế bao gồm: Khổ Đế, Tập Đế, Diệt Đế và Đạo Đế. Tứ Diệu Đế chỉ ra mục tiêu và tiến trình giải thoát, bát chánh đạo chính là phương pháp để thực hiện tiến trình ấy. Trong kinh Chuyển Pháp Luân thuộc Tương Ưng Bộ, chỉ ra ba cấp độ nhận thức về Tứ Diệu Đế:

Thứ nhất, Tứ Diệu Đế cần được nhận thức: Liễu Tri khổ đế, Đoạn tận Tập Đế, Chứng Ngộ Diệt Đế và Tu Tập Đạo Đế.

Cấp độ thứ hai: Tứ Diệu Đế cần được nhận thức như một phận sự cần được hoàn thành: Khổ đế cần được liễu tri, Tập Đế cần được đoạn tận, Diệt Đế cần được chứng ngộ, Đạo đế cần được tu tập.

Cấp độ thứ ba: dùng trí tuệ để thấy phận sự đã được hoàn thành: Khổ đế đã được liễu tri, Tập Đế đã được đoạn tận, Diệu đế đã được chứng ngộ, Đạo đế đã được tu tập viên mãn.

Chỉ khi viên mãn mười hai chi phần (tứ diệu đế đi qua ba cấp độ nhận thức) thì khi ấy tự giác, giác tha và giác hạnh viên mãn mới được tròn đầy. Người ấy sanh tử đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm nay không còn tái sinh trở lại.

Nói về Khổ Đế cần được liễu tri chứ không phải trốn chạy hay đoạn tận khổ, khổ đế không phải bị căm ghét hay vội vàng xua đuổi. Khổ là quả đã được hình thành, chống lại quả ấy bằng sân hận không những không làm cho quả ấy chưa từng sinh ra, trái lại sự chống đối lại tạo thêm một cái khổ mới. Đó là lý do đức Phật không dạy hãy đoạn trừ khổ đế mà ngài dạy liễu tri khổ, nhìn thẳng vào khổ đế, nhận biết khổ đúng như thật, thấy được các duyên sinh và không đem ý niệm tôi, của tôi, tự ngã của rôi vào trong tiến trình ấy.

Kinh Phân Tích Các Sự Thật thuộc Trung Bộ Kinh, tóm gọn khổ đế bằng năm uẩn: sắc thụ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn hiểu là do vô minh khiến ta nắm lấy chúng là tôi, của tôi, tự ngã của tôi vào thì khi ấy khổ bắt đầu xuất hiện và từ đó duyên sinh và nhân quả chằng chịt nối tiếp. Chính sự đòi hỏi cái vô thường phải thường còn, cái không thể phải tuyệt đối, khiến năm uẩn trở thành năm thủ uẩn và trở thành gánh nặng. Liễu tri khổ chính là thấy ra đây là duyên sinh sẽ sinh rồi sẽ diệt mọi thứ vô thường, không có gì bất biến, đây không phải tôi, của tôi, tự ngã của tôi.

Duyên Giác Thừa thực hành thập nhị nhân duyên: Vô Minh, hành (nghiệp), ái, thủ, hữu, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, sinh, lão tử. “Thấy duyên sinh là thấy pháp, thấy pháp là thấy phật” nhưng Duyên Giác Thừa vẫn chấp vào thập nhị nhân duyên để hoá thành.

Bồ Tát Thừa thực hành Lục Độ Ba La Mật. Lục Độ Ba La Mật là pháp tu của hàng Bồ Tát, được hiểu là sáu phương tiện đưa người qua bờ bên kia, tức từ bờ mê qua bờ giác. Bồ Tát không chỉ an vị tại bờ giác, mà mục đích tu hành của bồ tát chính là tự hoàn thiện mình, mặt khác cứu độ chúng sinh. Các ngài làm tất cả các phận sự nhưng không có tâm mong cầu kết quả, không chấp trước vào người làm, phương tiện làm và chúng sinh là đối tượng của việc làm. Đây là đạo đức vô hành, là tam luân không tịch, là vô sở cầu vô sở đắc, là vô ngã vị tha.

Bố Thí Ba La Mật là chia sẻ, ban cho, cung cấp: tài thí (vật thí), pháp thí và vô uý thí. Hiểu theo lý, bố thí nghĩa là buông xả. Kinh Kim Cương, Đức Phật chỉ dạy: “Bồ Tát đối với pháp không nên có chỗ trụ mà làm việc bố thí…nếu bồ tát bố thí chẳng trụ tướng thì phúc đức không thể nghĩ bàn”. Khi tiếp xúc với mọi cảnh duyên mà tâm không dính mắc, không khởi niệm phân biệt phê phán, làm tất cả vì người khác mà không trụ tướng, đó là hoàn toàn buông xả phù hợp với ý nghĩa sâu xa của Bố Thí Ba La Mật. Tuy nhiên hàng Bồ tát vẫn tạm chia thành hai cấp độ: còn bản ngã vi tế và viên mãn hoàn toàn. Trong Kinh Kim Cương có chỉ dạy: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” thực hành bố thí ba la mật nhưng không đem tôi, của tôi, tự ngã của tôi vào khi ấy là hoàn thiện ba la mật về bố thí.

Trì Giới Ba La Mật có ba trình độ: Nhiếp Luật Nghi Giới là nghiêm trì giới luật, giữ ngìn oai nghi, thu nhiếp thân tâm, Nhiếp Thiện Pháp Giới là vận dụng nhiều phương tiện giúp đỡ người khốn khó hướng mọi người tin sâu Tam Bảo và phát tâm học và thực hành giáo pháp làm cho mình và người không khổ thêm và Nhiêu Ích Hữu Tình Giới là nguyện dùng chính pháp để hoá độ tất cả các chúng sinh khắp pháp giới.

Nhẫn Nhục Ba La Mật là chịu mọi khó khăn trở ngại, vượt qua các chướng duyên một cách bình ổn, nhẫn nhục là không sinh tâm khởi niệm khi tiếp xúc duyên cảnh, mà đỉnh cao là Vô Sinh Nhẫn hay Vô Sinh Pháp Nhẫn.

Tinh Tiến Ba La Mật là siêng năng, chuyên nhất lặp đi lặp lại đều đặn trong công phu tu tập.

Thiền Định Ba La Mật là sự bình ổn của nội tâm, không quay cuồng theo trần cảnh, là sự có mặt trọn vẹn trong giây phút hiện tại. Lục Tổ Huệ Năng trong kinh Pháp Bảo Đàn chỉ dạy: “Ngoại ly tướng tức thiền, nội bất loạn tức định”. Thiền là bên ngoài không dính mắc vào các pháp, định là nội tâm không còn vọng tưởng lăng xăng tán loạn. Thiền Định không chỉ Tầm, Tứ mà không còn tôi, của tôi, tự ngã của tôi, niệm không sinh khơi, hoàn toàn định tính, trong lành, sáng suốt. Thiền định không chỉ ở trong tư thế ngồi, mà ở bất cứ mọi nơi, mọi lúc, nên là một thực tại bất ly thế gian.

Trí Tuệ Ba La Mật hay còn gọi là Bát Nhã Ba La Mật là trí tuệ rõ biết vạn pháp thấy biết mọi thứ đúng như nó là. Trong Kinh Pháp Hoa có viết:

Chư Pháp Tùng Bản Lai
Thiền Tự Tịch Diệt Tướng
Phật Tử Hành Đạo Dĩ
Lai Thể Đắc Tác Phật.

Nhìn Chung, Lục Độ Ba La Mật vừa là pháp tu, vừa là căn tính của một vị bồ tát. Trên đường tu hành bồ tát đạo phải có đủ đại trí, đại từ, đại bi, đại nguyện: Trên cầu phật đạo giác ngộ tối thượng, dưới hoá độ tất cả chúng sinh trong Tam Giới Lục Đạo. Tuy nhiên Bồ Tát Đạo nếu vẫn còn chấp vào hoá thành: an lạc của tôi, pháp môn của tôi, thành tựu của tôi, ba la mật của tôi tự ngã của tôi thì khi ấy vẫn chưa thể “Ưng Vô Sở Trụ Nhi Sanh Kỳ Tâm”, chưa hoàn toàn trở về bản thể thanh tịnh ban đầu, chưa thể nhập Niết Bàn, liễu ngộ vô sinh giải thoát. Chỉ khi hoàn toàn đặt để buông xả khi chỉ còn sự thanh tịnh, rỗng rang trong duyên khởi nơi từng niệm tâm thì khi ấy hành giả viên mãn giác tha hướng tới giác hạnh viên mãn.

Lộ trình Giải Thoát thông qua giáo Lý Ngũ Thừa tương ưng trong tiến trình lộ trình giải thoát chung mà chư Phật chư Tổ đã trao truyền con đường qua nhiều thế hệ để cùng một đồng thể thanh tịnh phật viên mãn. Giáo Lý Ngũ Thừa vừa chỉ ra mục tiêu, lộ trình, con đường và phương pháp thực hiện đồng thời cũng giúp hành giả soi lại con đường trong nhân duyên, phước đức của chính mình, tuy nhiên cần nhìn nhận mọi yếu tố trong tính biện chứng, trong sự tương tục nhân duyên vô cùng phức tạp và mối liên hệ nhân quả chằng chịt. “Vô minh trăm ngàn kiếp, giác ngộ trong một giây” nhận thức và thực hành trong pháp hành và thành tựu trong pháp thành là cần thiết đối với hành giả giải thoát nhưng không hoàn toàn cam kết về pháp thành viên mãn quả vị phật. Hành giả cần thực chứng và giác ngộ trong mỗi nhân duyên với tâm vô sinh, khi tâm không còn sinh khởi thì phiền não khổ đau liền chấm dứt, vô sinh là giải thoát, thất ra sự thật đúng như nó là là trí tuệ giác ngộ. Hành giả cũng cần nhìn nhận sự chấp dính nơi mỗi Thừa trong Ngũ Thừa để tinh tấn thực hành nơi chánh trí.

Trong thực tiễn cá nhân, là một hành giả tu tập giải thoát và thực hành bồ tát đạo, cũng như là một học giả nghiên cứu phật học. Qua việc học tập và nghiên cứu căn bản về lộ trình giải thoát qua giáo lý Ngũ Thừa đã giúp cho hành giả có một cơ hội để nhắc nhở và nhìn rõ hơn bản ngã vi tế còn xuất hiện đôi lúc nơi thân, khẩu, ý. Khi chánh niệm và ghi nhớ bản ngã vi tế này, sự nhắc nhở trong tâm thức giúp hành giả quay trở về với sự vô niệm đang thực hành. Từ đó phát nguyện gìn giữ giới luật, oai nghi tế hạnh nơi thân khẩu ý, thực hành sự chuyển hóa tự tâm thức để thực chứng trên con đường tự lợi, phát nguyện hành bồ tát đạo độ tận chúng sinh trong tâm bình đẳng thanh tịnh, khi ấy mọi nhân duyên đều là cơ hội thực hiện trọn vẹn trong pháp thanh tịnh.

Dù là mây hay nước
Vẫn ngàn năm thong dong
Duyên sinh nhìn cho thấu
Nhân quả chẳng sai dòng

Mỗi bước chân hạnh nguyện
Mỗi hơi thở hiện tiền
Một tiếng chuông tĩnh lặng
Mây trắng giữa trời không

Nam Mô A Di Đà Phật